GÓC TỐI CỦA MỘT NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG THẤU CẢM


Họ có thể hiểu những điều không ai hay. Đó là một món quà mà họ không thể giải thích cho ai. Tuy nhiên, đó cũng là một gánh nặng với những góc tối và nỗi đau. Tâm hồn của họ quá nhạy cảm với những nguồn năng lượng bao quanh. Với họ, sự hiện diện mang tính cộng hưởng của họ như thể là bẩm sinh vậy, rất khó để lờ bản năng ấy đi.

Họ là bờ vai người khác có thể dựa vào khi người ta cần sự giúp đỡ để được cảm thấy nhẹ bớt những gánh nặng đang mang. Người khác cảm thấy họ là những người thực tế và đáng tin cậy. Mặc dù cực kì nhạy cảm, họ có khả năng đương đầu với sự giải phóng cảm xúc khi người khác mở lòng với họ.

Những người ấy, dù tìm được nơi nương tựa ở sự xuất hiện của họ, chẳng thể nào biết rằng bên trong, họ mang theo một biển trời những cảm xúc đối lập, và tất cả cùng tạo nên một tiếng ồn lẩn sâu nhưng chẳng bao giờ kết thúc. Thứ tiếng ồn họ muốn làm lặng thinh nhưng không thể. Đôi khi họ cảm thấy bị trói buộc bởi một đôi bàn tay vô hình. Cảm giác tệ hại ấy dường như nuốt chửng lấy họ. Nó lấy đi từng chút sức lực một của họ mỗi khi họ cố gắng để không lâm vào tình trạng chịu áp lực dữ dội.

Họ hầu như chẳng thể làm gì để chống trả lại được nguồn năng lượng tiêu cực tấn công một cách đột ngột ấy. Bước chuyển đổi nhanh đến mức họ không có thời gian tập hợp sức mạnh để đương đầu. Nó tấn công họ thẳng vào lồng ngực, đẩy họ vào trạng thái bối rối và u sầu. Con người sâu bên trong của họ giờ đây cảm nhân thấy nguồn năng lượng tiêu cực rõ hơn bất cứ điều gì khác. Nỗi buồn, sự bóp nghẹt con tim, sự hung ác tồn tại xung quanh họ, tạo nên sự căng thẳng ngột ngạt, và đau đớn. Những điều tiêu cực làm tâm hồn họ căng thẳng hơn việc lòng tốt và sự rộng lượng của thế giới làm tinh thần được xoa dịu. Cái cách mà thế giới ngày nay vận hành không phù hợp với những người như họ.

Không có cách nào điểu khiển hay điều chỉnh những giác quan của họ để cảm thấy bớt căng thẳng hơn. Những cảm xúc của họ chất chứa bên trong và tác động đến họ một cách mạnh mẽ. Những ảnh hưởng ấy chẳng bao giờ nhẹ nhàng, và đó là lí do vì sao cảm xúc của họ vắt kiệt sức cả tinh thần lẫn thể chất. Chẳng ai biết họ đã trải qua những gì, nhưng trong hầu hết các trường hợp, họ giữ được sự bình tĩnh. Chỉ trong một vài trường hợp rất hiếm hoi, họ đánh mất khả năng làm chủ.

Một người có khả năng đồng cảm là một tâm hồn cô độc. Có người khác ở bên hầu như không giúp được gì cho họ, vì sự trộn lẫn của những nguồn năng lượng khác nhau chỉ làm họ thêm bối rối. Điều này khiến họ khó nhận ra những giới hạn của bản thân và cả của người khác. Họ phải kìm nén bản thân nhiều hơn để xây dựng lại sự kết nối với tâm hồn bên trong, xác định lại những ranh giới đã bị làm mờ bởi sự hiện diện của những nguồn năng lượng khác nhau.

Tuy nhiên, một người có khả năng đồng cảm cũng rất mong muốn được ở bên những người họ yêu quý và chấp nhân mình một cách hoàn toàn. Mong muốn này thường đưa họ đến bên những người chỉ muốn lợi dụng họ. Một người có khả năng đồng cảm là “một người cho đi” – người luôn sẵn sằng lan tỏa tình thương và sự vị tha tới những ai cần đến chúng. Đó là lí do vì sao những người có khả năng thấu cảm dễ trở thành nạn nhân của những kẻ thích điều khiển, chỉ để cảm thấy được mong muốn và yêu thương.

Sự hào phóng và tình yêu thương của bản thân lu mờ họ trước những hiểm nguy đang tồn tại bên cạnh. Họ không thể xác định được động cơ ẩn sau những kẻ chầu chực trên lòng tốt của họ và lợi dụng điều đó cho mục đích ích kỷ của chúng. Những người có khả năng đồng cảm thường bị mắc lừa bởi những kẻ đội lốt bản thân là người bất hạnh và là nạn nhân của hoàn cảnh xung quanh. Trong nỗ lực để chữa lành những người giả mạo này, một người có khả năng thấu cảm sẽ bị vướng vào trò chơi bẩn thỉu của những kẻ đó.

Vậy mà cho dù có nhiều nguy hiểm tiềm tàng thế nào, một người có khả năng đồng cảm chẳng thể nào ngừng giúp đỡ người khác. Đó là một sự cám dỗ họ không thể cưỡng lại. Nó là một phần trong tính cách của họ khi họ vội vã đến để giúp đỡ những người có vẻ như đang cần nó. Họ cảm giác rằng cứu rỗi người khác khi gặp khó khăn cũng giống như đang cứu rỗi chính mình khỏi khổ đau. Ngay cả khi họ nhận thức được gánh nặng mà họ đang phải mang, họ cũng sẽ lờ nó đi vì họ không muốn đối mặt trực tiếp với những mặt tối, những khổ đau và cả những sai lầm của mình. Họ thà sống một cuộc sống đầy bận rộn căng thẳng còn hơn là bước đi trong tự do. Đây là phương thuốc họ có để giảm bớt nỗi đau và sự thống khổ mà đang ẩn sâu bên trong họ.

Từ chối giải quyết nỗi đau của chính họ không có kết quả tốt trong thời gian dài. Tâm trí và cảm xúc của họ không thể chịu được sự bỏ bê. Họ càng dành nhiều thời gian tập trung vào vấn đề của chính mình thì càng có khả năng cao họ cô lập bản thân mình cả về thể chất lẫn tâm lý với thế giới bên ngoài. Cuối cùng, sự ruồng bỏ chính mình không thể được tiếp tục và họ đành phải dùng đến phương pháp tìm đến những tâm hồn đồng điệu (những người mà họ cho rằng cũng khổ đau giống họ) để có thể giải quyết những vết thương sâu sắc trong mình.

Tại thời điểm này, họ cảm nhận nỗi đau là sâu sắc và mạnh nhất. Nó thật sự tệ đến thế với những người nhạy cảm nhường này với cảm xúc. Cuộc đấu tranh của họ còn trở nên khó khăn hơn nhiều vì họ phải đói mặt không chỉ với nỗi đau của chính mình mà còn với nỗi đau mà họ hấp thụ từ người khác.

Những người có khả năng đồng cảm thường không đánh mất bản thân họ hoàn toàn khi yêu. Họ giữ lại một chút cảm xúc trong tim mình và điều này làm họ hối tiếc và buồn rầu. Có một mối quan hệ sâu sắc toàn diện sẽ làm họ cảm nhận được tình yêu thuần túy, không ràng buộc và đầy đam mê ở hình thái chân thực nhất. Họ nghi ngờ về khả năng đối diện với những cảm xúc choáng ngợp như vậy, và không biết làm thế nào khi người yêu họ sẽ có thể xử lý chúng nếu họ cho phép bản thân mình bộc lộ chúng ra một cách phù hợp.

Đó cũng là lý do tại sao họ chọn cách giấu mình phần nào và không bao giờ bộc lộ bản thân hoàn toàn. Họ giữ gìn một phần của bản thân một cách chặt chẽ để tránh đau khổ trong tương lai mà có thể là hậu quả của sự không phù hợp. Tuy nhiên, có một ước muốn sâu xa trong họ muốn cảm nhận tình yêu nồng nàn và mạnh mẽ mà họ có khả năng cho đi và nhận lại.

Những người này được trời phú cho khả năng cảm nhận được những cảm xúc một cách xuyên suốt và sâu sắc hơn mà không ngừng đặt ra những thách thức để đối đầu với sự đau đớn và thống khổ. Sự u sầu này là mặt tối trong tính cách của người có khả năng thấu cảm. Vượt qua nó là một cuộc tranh đấu liên tục, nhưng điều đó không có nghĩa là họ nên từ bỏ và để cho mặt tối đó lấn át mình.

Có một cách để tránh được những nỗi đau dữ dội bằng cách học để đối phó với những năng lượng tiêu cực luôn tràn ngập trong tâm trí họ. Tất cả những gì họ cần làm là tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người yêu thương họ và thấu hiểu họ thật sự. Những người có khả năng đồng cảm cần biết phân biệt giữa những cảm xúc thuộc về họ và những cảm xúc mà bắt nguồn từ bên ngoài.

Ít nhất thì cũng không cần thiết cho họ khi bảo vệ cảm giác của mình. Sẽ là mất rất nhiều nỗ lực và ý chí để cái tôi đầy cảm thông của họ có tác động tích cực trong cuộc sống của họ chứ không phải là trở thành nạn nhân của điều đó.

Và thật sự thì không công bằng chút nào trong thế giới này, nếu những tâm hồn đẹp nhường ấy phải chịu đựng trong bóng tối.

Dịch: Khánh Linh, Dahlia Nguyễn

Advertisements

Ngại giao tiếp


sợ giao tiếp

“Tôi bị mắc chứng khó giao tiếp với mọi người. Nghe thì gần giống như căn bệnh tự kỷ nhưng thực ra không phải, chỉ là tôi rất ngại giao tiếp với người khác.

Tôi hoàn toàn không phải là một đứa ít nói. Trớ trêu là như vậy. Tôi nói nhiều, nói được đủ mọi đề tài và đối tượng. Thậm chí tôi không ngại nói chuyện, thuyết trình trước đám đông.

Continue reading “Ngại giao tiếp”

Rối loạn nhân cách ái kỷ


Post lại bài này từ blog cafesach.


Trong thần thoại Hy Lạp có câu chuyện về chàng Narcissus. Chàng rất đẹp, đẹp đến não nề, đẹp đến đau lòng người khác. Có vô vàn cô gái yêu chàng nhưng chàng lại chẳng thích một ai, chàng cho rằng chỉ có mình mới xứng đáng với tình yêu của mình mà thôi. Echo, một nữ thần sông núi đã mang lòng yêu chàng. Do Echo lỡ phạm lỗi với Hera nên bị nữ thần tước đi giọng nói, cô chỉ có thể lặp lại những lời người khác nói sau cùng mà thôi. Echo lấy hết can đảm tỏ tình với Narcissus nhưng chàng ta lạnh lùng từ chối khiến cô đau khổ, thân hình tiều tụy, yếu ớt dần. Các nữ thần sông núi khác thấy vậy nên rất tức giận, các nàng cầu xin nữ thần tình yêu Aphrodite hãy trừng phạt Narcissus. Nữ thần nghe lời cầu xin nên đã giáng một lời nguyền lên người Narcissus, chàng sẽ yêu người đầu tiên mà chàng gặp. Lúc ấy là giữa ngày xuân, Narcissus đi săn và tìm đến một con suối để nghỉ ngơi. Khi chàng cuối xuống bỗng thấy khuôn mặt mình, và chàng đã chìm đắm trong tình yêu với chính bản thân mình. Nhưng mỗi khi chàng đưa tay chạm vào mặt nước, bóng hình ấy tan vỡ khiến chàng đau khổ. Narcissus quên đi tất cả, chẳng thiết ăn uống, cứ ngồi bên dòng suối và ngắm nhìn hình bóng của mình không biết chán. Chẳng bao lâu chàng mất đi, bên bờ suối mọc lên những nhành thủy tiên trắng kiêu ngạo, thơm ngát. Và có lẽ xuất phát từ đó, từ Narcissism được dùng để nói về thói ngạo mạn và tự yêu mình thái quá.

Khi viết bài về rối loạn nhân cách hoang tưởng, tôi có nói sơ về việc 9 bệnh rối loạn nhân cách được xếp vào ba nhóm A, B và C. Rối loạn nhân cách hoang tưởng nằm trong nhóm A ( nhóm kỳ quặc). Hôm nay chúng ta sẽ bàn về một bệnh rối loạn nhân cách nữa, nằm trong nhóm B với những đặc điểm chính là kịch tính, quá cảm xúc và thất thường. Đó chính là bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ (Narcissistic Personality Disorder) hay còn gọi là bệnh rối loạn nhân cách yêu bản thân thái quá.

Trong bảy tội lớn nhất của con người trong Kinh Thánh, phẫn nộ, phàm ăn, lười biếng, kiêu ngạo, đố kỵ, trụy lạc và tham lam thì tội lỗi đại diện cho bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ là đố kỵ. Bạn thấy lạ đúng không? Tôi cũng vậy, tôi cứ nghĩ tội lỗi đại diện cho bệnh này phải là kiêu ngạo mới đúng vậy. Nhưng nếu đi sâu vào triệu chứng và tiềm thức của người mắc bệnh này thì mới bạn sẽ hiểu lý do.

Đặc điểm chính của rối loạn nhân cách ái kỷ là những xu hướng ảo tưởng qua suy nghĩ hay qua hành động, sự cần thiết được người khác ngưỡng mộ và không có khả năng thấu cảm với người khác. Những người này thường phóng đại tầm quan trọng của họ đối với người khác. Họ tin rằng họ có những kỹ năng đặc biệt, có một không hai mà chỉ có những người có vị trí cao trong xã hội mới hiểu được. Bản thân họ chỉ quan tâm và chú ý đến khả năng và những gì họ đạt được. Bởi vì họ coi họ là quan trọng, là độc nhất, cho nên họ không thể nào thông cảm và thấu hiểu được cảm xúc của người khác, và thường được coi là những người kiêu căng, ngạo mạn. Họ lợi dụng sự thành công của người khác để làm bàn đạp cho mình.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ theo DSM-5 là

Sự rối loạn trong việc vận hành nhân cách thường ngày:

Sự rối loạn trong các hoạt động của bản thân.
-Nhân cách: thường dựa vào người khác để xác định bản thân là ai, phóng đại về bản thân, hạ thấp người khác.

-Hướng đi của bản thân: mục đích cuộc sống được đặt ra để đạt được sự tán thưởng của người khác. Mục tiêu và khả năng của bản thân họ đề ra cao một cách vô lý để họ cảm thấy rằng mình là đặc biệt, hoặc là quá thấp vì họ cảm thấy mình xứng đáng có được hết thảy, thường không để ý đến động lực thật sự của mình là gì.

Sự rối loại giữa các mối quan hệ cá nhân và xã hội.
-Thấu cảm: không có khả năng nhận thức, xác định cảm xúc và những gì người khác cần. Thường đón nhận phản ứng của người khác với thái độ quá mức, nhưng chỉ trong trường hợp nó có liên quan đến bản thân, đánh giá quá cao hoặc quá thấp sức ảnh hưởng của mình lên người khác.

-Quan hệ tình cảm: các mối quan hệ chỉ tồn tại với mục đích phục vụ cái tôi của bản thân, không hề có hứng thú với việc đối phương muốn gì và thích gì.

Rối loạn nhân cách ái kỷ đa số được chẩn đoán với người đã trưởng thành, bởi vì trẻ em và thanh thiếu niên vẫn còn đang trong thời kỳ phát triển tâm lý và cải thiện nhân cách. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán ở trẻ em và thiếu niên thì những triệu chứng trên phải tồn tại và kéo dài ít nhất một năm.

Tóm tắt lại là những người mắc rối loạn nhân cách ái kỷ là những người kiêu ngạo, coi bản thân mình đặc biệt hơn hẳn những người khác, không có khả năng thấu cảm, thích và cần được ca ngợi và coi trọng. Vậy thì tại sao đố kỵ lại được coi là tội lỗi tượng trưng cho bệnh này?

Ở tầng tiềm thức thì sự ảo tưởng, cho rằng mình xứng đáng được hưởng hết thảy, và mình quan trọng hơn những người khác được giải thích rằng do bản thân người đó cảm thấy mình bị nguy hiểm, bị đe dọa bởi những gì người khác đạt được. Vì thế, trong tiềm thức họ tìm cách kéo những người có vẻ giỏi giang hơn mình ấy xuống ngang hàng mình, hoặc thấp hơn mình để thỏa mãn cho cảm giác bản thân mình vượt trội hơn hẳn người khác. Để giải thích rõ hơn, tôi sẽ kể lại một trường hợp mà thầy tôi gặp phải trong những ngày đầu đi thực tập tại bệnh viện.

Lúc ấy thầy tôi mới vừa ra trường và được nhận vào thực tập ở bệnh viện trường tôi. Ngay khi vào được một, hai tuần thì một vị bác sĩ đã chuyển một hồ sơ bệnh án qua cho thầy với gương mặt áy náy khi bắt thầy nhận bệnh án này, vì không ai muốn nhận nó hết. Nhưng ca bệnh này sẽ mang lại cho thầy nhiều kinh nghiệm với kiến thức. Đó là bệnh án về một người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ.

Bệnh nhân được đưa đến khám bởi người bạn cùng phòng của anh ta. Người bạn ấy lo rằng với tính cách này của anh thì anh sẽ khiến anh gặp nhiều rắc rối. Anh đã đi khám nhiều bác sĩ rồi nhưng thường chỉ sau mười phút đã bỏ đi. Khi gặp thầy tôi, anh ta có vẻ nghi ngờ khả năng, nhưng vẫn nói chuyện. Thầy tôi không hỏi gì nhiều, chỉ lắng nghe anh ta nói. Trong suốt một tiếng đồng hồ trị liệu thì có hết khoảng 45’ phút là anh ta kể về mình, về gia đình, về những gì anh ta đạt được. Sau đó anh ta thấy được bằng tốt nghiệp của thầy tôi treo ở trên trường và hỏi, “Anh không phải tốt nghiệp từ trường ở nước Mỹ à?”, “Không.” Thầy tôi vừa trả lời xong thì anh ta đập bàn mạnh một cái, mắng thầy tôi làm phí thời giờ của anh ta, đứng dậy và bỏ ra ngoài bãi đỗ xe. Người bạn đi cùng nhìn thầy tôi với ánh mắt ái ngại và xin lỗi rối rít. Thầy tôi bảo lúc ấy bản năng của thầy chỉ muốn đập cho anh ta một trận, nhưng lương tri kéo thầy lại, thầy suy nghĩ về những gì mình đã trải qua, khó khăn để xin được đi thực tập nên thầy phải kiềm lại. Thầy hỏi người bạn đi cùng có nghĩ rằng anh ta có sao hay không? Có làm gì tổn thương đến bản thân hay không. Người bạn ấy trả lời rằng thầy đừng lo, anh ta quá yêu bản thân mình thế nên chả đời nào tự làm mình tổn hại đâu.

Bệnh nhân trong câu chuyện trên thể hiện rõ một số triệu chứng của bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ. Anh ta dành phần lớn thời gian để nói và ca ngợi bản thân. Vì anh ta nghĩ rằng anh ta đặc biệt, thế nên chỉ có những người có địa vị xã hội như thầy tôi mới xứng đáng để nghe anh ta nói chuyện. Cho nên khi anh ta thấy thầy tôi không phải tốt nghiệp từ trường nào đó trong nước Mỹ thì anh ta cho rằng thầy tôi không xứng đáng để anh ta nói chuyện tiếp. Trong tiềm thức, anh ta kéo thầy tôi, một người có địa vị xã hội cao hơn anh ta, xuống thấp hơn để bản thân có thể trèo lên cho bằng, hoặc cao hơn nhằm thỏa mãn cái mong muốn mình đặc biệt hơn người. Đó chính là đố kỵ. Vì đố kỵ thế nên không chấp nhận bất cứ ai giỏi hơn mình và tìm cách kéo họ xuống. Luôn coi mình là trung tâm của sự ngưỡng mộ thế nên không thể chịu nổi khi ai đó giỏi hơn mình.

Bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ được coi là “con lai” của hai chứng bệnh rối loạn nhân cách kịch tính và rối loạn nhân cách phản xã hội vì nó có một số triệu chứng là đặc điểm của hai bệnh trên, ví dụ như không có khả năng thấu cảm là triệu chứng tiêu biểu của ASPD, còn coi mình là trung tâm của mọi việc, cần được tán thưởng và ngưỡng mộ là đặc điểm của bệnh rối loạn nhân cách kịch tính. Những người mắc rối loạn nhân cách ái kỷ thường dùng sự tách ly (Splitting) làm cơ chế bảo vệ. Theo phân tâm học, sự tách ly, hay còn gọi kiểu suy nghĩ trắng và đen- có hoặc không, là sự thất bại trong suy nghĩ của một người, họ không thể mang cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của bản thân và những người khác lại để liên kết, tạo nên một tổng thể “hiện thực”. Đây là một hình thức tự vệ trong tiềm thức được dùng bởi rất nhiều người. Họ thường hay nghĩ đến mức cùng cực, mỗi hanh động, động lực của họ chỉ có hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu chứ không có ở giữa. Người bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ dùng cơ chế này để ổn định cảm xúc tích cực về bản thân phục vụ cho cái tôi của họ, bằng cách nhận định bản thân vượt trội hơn hẳn những người khác và đáng được ngưỡng mộ. Những ai không làm theo ý họ, hoặc không coi trọng những giá trị mà họ mang lại là những kẻ xấu xa và chỉ biết ganh tỵ với những gì họ đạt được.

Nguyên nhân gây ra chứng rối loạn nhân cách ái kỷ vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi và chưa có kết quả cuối cùng. Những nhà tâm lý học dùng mô hình sinh lý- tâm lý- xã hội để giải thích nguyên nhân và họ cho rẳng nguyên nhân gây ra bệnh rất phức tạp. Bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ có thể liên qua đến sự chỉ trích thái quá, hoặc tâng bốc quá của các bậc cha mẹ đối với con mình, không ngừng nhấn mạnh về sự đặc biệt của nó. Điều này khiến cho đứa trẻ có thể che dấu đi sự thiếu tự tin của mình bằng cách phát triển bề ngoài về sự hoàn hảo, và hành vi chứng tỏ sự cần thiết được ngưỡng mộ liên tục. Bên cạnh đó còn có sự liên hệ giữa bộ não, suy nghĩ và hành vi, khả năng giải quyết stress.

Khi học tâm lý tính cách con người, giáo sư tôi có đưa ra một nghiên cứu rất thú vị. Nghiên cứu này kết luận rằng giới trẻ thời nay có tính ái kỷ, cho rằng mình xứng đáng được hưởng mọi thứ hơn những người sống 20 năm về trước. Nguyên nhân là vì sao? Ngày nay, trong các buổi diễn đàn về tự lực, hướng bản thân đến lối sống hoàn thiện, hoặc trong những cuốn sách hướng dẫn bạn tự rèn luyện bản thân thường hay có những câu như, “Chỉ cần bạn cố gắng hết mình bạn sẽ thành công” hay “Chỉ cần bạn cố gắng hết sức, bạn sẽ đạt được những điều mình muốn.” Vì những câu như thế khiến giới trẻ ngộ nhận rằng họ có quyền được hưởng mọi thứ chỉ cần họ cố gắng hết sức. Thế nhưng “cố gắng hết sức” là một khái niệm trừu tượng, không được định nghĩa rõ ràng. Thế nào gọi là cố gắng hết sức? Bạn cho rằng bạn học hết 2 tiếng là sự cố gắng hết sức của bạn và vì thế bạn xứng đáng được điểm 10 thay vì điểm 6 hay 7. Thế nhưng đối với người khác, sự cố gắng hết sức của họ là chăm chỉ ngay từ đầu buổi học. Chính những khái niệm trừu tượng này dẫn đến sự ngộ nhận và tính ái kỷ trong giới trẻ.

Trên thực tế, bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ là một trong những bệnh tâm lý có tỷ lệ người mắc bệnh thấp nhất, chiếm khoảng 2% dân số. Thế nhưng con số này đang dần tăng lên bởi vì một trong những nguyên nhân mà tôi nêu bên trên. Cũng giống như các bệnh rối loạn nhân cách khác, rối loạn nhân cách ái kỷ rất khó chữa. Một phần là vì người mắc bệnh không cho rằng họ bị bệnh, và vì thế nên họ không tự đi tìm sự giúp đỡ từ các chuyên gia. Phương thức chữa bệnh phổ biến nhất là dựa vào nói chuyện và khám phá tiềm thức người bệnh, hướng dẫn họ suy nghĩ tích cực hơn, tốt hơn. Lâu dài, các chuyên gia sẽ giúp người bệnh có cái nhìn sâu vào bên trong suy nghĩ của họ, giải đáp tại sao họ lại có thái độ và hành vi như thế với hy vọng rằng điều này sẽ giúp cho họ cải thiện hành vi của mình. Không có loại thuốc nào có thể chữa rối loạn nhân cách ái kỷ, các loại thuốc được dùng để chữa các triệu chứng phụ khác như trầm cảm, lo âu có thể xuất hiện kèm theo bệnh.

Dịch và Viết : Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Nguồn: Abnormal Psychology by Thomas. F. Oltmanns, 7th edition, DSM-5, Mayo Clinic, Web MD…

http://www.tamlyhoctoipham.com/